Phương danh “Trà” là từ dùng để chỉ loại thức uống được pha nước đun sôi, từ búp và lá cây chè đã được sao và chế biến. Nhưng người Hàn Quốc dùng từ “Trà”, theo phát âm là “Cha” để chỉ các loại nước uống nói chung. ví dụ như người Hàn Quốc hay bảo nhau “Chúng ta cùng uống Trà nhé!” có tức là “chúng ta uống nước nhé !”.
Trong các loại trà thì trà mạn là thức uống cần có thời kì nhàn rỗi. Để có chung trà ngon, đầy đủ hương vị người ta dùng nước suối, hay nước sạch thiên nhiên từ sông ngòi được lóng trong, hoặc nước sương đọng trên lá sen, đun sôi, chờ khi nước giảm nhiệt lượng đi một chút rồi mới pha trà. Sau đó, phải chờ cho trà ngấm thì mới rót ra uống.
đa số cho rằng uống trà mạn là vung phí thời kì, là không hiệp với nhịp sống tất tưởi ton tả của thời đương đại. Đó là vì họ không biết giá trị trong lúc chờ uống trà, thì cuộc trò chuyện giữa chủ nhà và khách đến chơi sẽ diễn ra một cách thoải mái tự nhiên. Còn nếu uống trà một mình thì đây sẽ là khoảnh khắc riêng tư giúp người ta tận hưởng được hương vị thơm ngon tinh tế của chén trà và là giây phút thư giản tiệt. Làn nước trà xanh nhấp nhánh trong chiếc chén sành trinh bạch trong ngần được coi là “Phong lưu” là “Đạo” trong quan niệm của người Hàn Quốc xưa.
Người Hàn đã biết thưởng thức văn hóa trà đạo, uống trà từ thời tam quốc trên bán đảo Hàn Quốc gồm Goryeo (Cao Ly) miền Bắc, Baekje (Bách Tế) ở miền Tây Nam và Silla (Tân La) ở miền Đông Nam.
Ý nghĩa dâng trà trong lễ thức Phật giáo vô cùng đặc biệt. Khắp chốn Thiền môn, chúng ta có thể tìm thấy hình ảnh dâng trà được khắc hoặc vẽ trên các chuông lớn hoặc tranh Phật giáo.
Vị Tiền bối có công đưa đưa “trà” thành “đạo” ở Hàn Quốc trong thời hậu Joseon (Triều Tiên) là Thiền sư Thảo Y (1786~1866), được quần chúng. # sùng kính suy tôn Thánh Trà Thảo Y Thiền Sư. Ngài dựng một Thảo Am nhỏ, mái lợp rơm, tường vách đất mang tên Nhất Chi Am. Thảo am được dựng trong khuôn viên Đại Hưng cổ tự, huyện Hải Nam (Haenam-gun), tỉnh Toàn La Nam Đạo (Jeollanam-do), nơi Thảo am tịch mịch, Ngài chuyên canh trồng chè và tỉnh tâm tu hành.Thiền sư Thảo Y Nhất Chi Am
Ngài truyền tụng rằng : “Việc cuốc đất trồng Trà và thưởng thức Trà Đạo so với sự tu hành chẳng khác. . .” Những áng thơ in đậm nét tình Đời ý Đạo trong tuyển tập thơ Đông Trà Tụng của mình, Ngài đã giới thiệu với bạn đọc cách chế biến, phân loại trà, cách uống và thưởng thức trà, sự ưu việt của hương, vị, phong cách và dược lý của trà Hàn Quốc hơn hẳn so với trà Trung Quốc.
Tập sách Đông Trà Tụng
“Tiếng nước sôi trong vắt sao lặng yên
Hương trà thơm mát dịu thấu tới xương
Tâm hồn vu vơ bừng tỉnh
Mây trắng trăng thanh hai vị khách dửng dưng
Liệu có bằng nơi đây của người tu niệm!”
Qua vài dòng tâm sự mộc mạc, thấu tình đạt lý, Ngài đã miêu tả phần nào được niềm an lạc hạnh phúc của một người thư giãn với chén Trà thơm ngon trong sáng trong đêm khuya tịch mịch. Sống ở đời mỗi người chúng ta nên tự thưởng cho mình những giây phút êm đềm thơ mộng này.
Nhà thư họa nổi tiếng trong thời Triều Tiên (Joseon) có tên là Kim Jeong-hee (Kim Chính Hỷ) (1786-1856) hiệu Chusa (Thu Sử) thường thư giao lưu đối ẩm Trà đạo ấm tình đạo hữu với Thảo Y Thiền Sư. Một bức thư gởi Thiền sư Thảo Y về việc cho uống Trà đã viết :
“Ta không nhớ Thiền sư,
Cũng không mong thư của Người.
Nhưng vì nhớ vị Trà lưu tình không hôm nọ
Rồi ta sẽ đến để uống Trà.
thư từ có chi mà viết
Chỉ là món nợ hai năm xin được trả một lần
Xin người nhớ cho đừng chậm chễ
Ta cũng thả phanh hỗ tương chữ lễ nghi”.
Nhà thư họa lừng danh Kim Jeong-hee
Sau khi nhận được bức thư này, Thảo Y Thiền Sư đã gửi trà kèm theo thư cho Kim Jeong-hee. Thư đáp rằng :
“Say hương Trà mắt như bừng sáng
Có hay không thư người gửi ta cũng chẳng màng!”
Nhị vị danh nhân nghệ sĩ tài ba trọng nghĩa tình đạo hữu là vậy mà thơ qua lại cho nhau sao thật chân chất, mộc mạc và gần gủi đời thường đến vậy? Dù nhịp sống ngày nay có bận bịu đến đâu thì chúng ta cũng nên giành cho nhau một giây phút thư giãn, bên nhau cùng uống chén Trà nóng để trút bầu tâm sự và thảnh thơi. hồn nhiên để nhìn thế sự thăng trầm biển dâu đổi thay theo ngày tháng.